29 tháng tư 2013, 12:08

Bài 10

Bài 10

TẤM LÒNG CÔ GIÁO NGA VÀ HÀNH TRÌ

TẤM LÒNG CÔ GIÁO NGA

VÀ HÀNH TRÌNH ĐI TÌM TRÒ VIỆT

TS. Nguyễn Văn Tịnh

Trường Đại học Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

 

 

Ba mươi năm trôi qua (1973-2003), bức ảnh người học trò được bà trân trọng gìn giữ như một kỷ vật vô giá vẫn chưa phai màu, với nỗi lòng canh cánh, đau đáu của một người mẹ chờ con.

 

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

Tôi gặp bà trong Hội thảo Quốc tế Macarenko tổ chức tại Moskva, diễn ra trong 5 ngày vào tháng 04 năm 2003, đúng dịp kỷ niệm ngày sinh của nhà giáo dục vĩ đại của nhân dân Xô viết. Đó là bà Magarita Dmitrievna Vinagradovna, chuẩn bị bước sang tuổi 80, vóc người nhỏ nhắn, khuôn mặt phúc hậu, bước đi nhanh nhẹn. Bà ngồi dãy ghế trên, tôi ngồi dãy dưới sau bà, hai người ngồi cách nhau chỉ một hàng ghế.

Trong giờ giải lao, bà đến gần tôi, với vẻ mặt niềm nở chào và hỏi thăm:

- Anh là người Việt Nam?

- Vâng, đúng ạ. Tôi trả lời nhanh.

- Anh đi cùng với ai? Bà hỏi tiếp.

- Tôi đi một mình. Thưa bà. Tôi là nghiên cứu sinh.

- Thật là tuyệt!

Cứ thế, câu chuyện giữa hai người: một già, một trẻ, một người Nga và một người Việt không hề dứt, vui như gặp lại người thân đi xa về. Ghé sát tai tôi, bà bộc bạch: Cách đây ba mươi năm, bà có hướng dẫn một nghiên cứu sinh tên là Ле Шон (Lê Sơn), bảo vệ xong cậu ta về nước, từ đó đến nay hai người mất liên lạc hoàn toàn. Không biết bây giờ ra sao. Nhân đây, bà có một đề nghị: Nếu khi tôi trở về Việt Nam hãy giúp bà bằng cách nào đó tìm lại học trò Lê Sơn, và nếu có thông tin gì thì báo cho bà biết. Tôi hứa, sẽ cố gắng giúp bà bằng mọi cách có thể.

Chúng tôi trở lại Hội thảo. Cẩn thận là tính của người già, trong giờ hội thảo, bà lấy bút và xé giấy từ cuốn vở ghi chép, viết vội một bức thư ngắn để gửi ngay cho tôi. Tôi hiểu, Moskva thì quá rộng, chắc bà sợ khó gặp lại nhau sau Hội thảo. Nói thật, vì thư tay không có phong bì, chắc không có điều gì bí mật cả, tôi trộm đọc được nội dung bà viết, đại ý: nhắc lại họ tên bà để anh Lê Sơn nhớ lại, nói thêm về tình hình sức khỏe của bà, hỏi thăm anh Sơn, gia đình và công việc, sau bao nhiêu năm xa cách, may gặp lại một nghiên cứu sinh Việt Nam trong Hội thảo ở Moskva, qua anh này, hy vọng gặp lại học trò cũ. Cuối thư, bà có nhắn gửi: "Nếu nhận được thư này thì viết cho bà để bà mừng". Ký tên: Vinagradovna.

Buổi chiều hôm đó, bà cùng các đại biểu dự Hội thảo đến thắp hương trước Đài tưởng niệm Macarenko ở Nghĩa trang danh nhân (Moskva).

Vì tuổi cao, sức yếu bà không tham gia Hội thảo được đến cùng. Trước khi chia tay, bà cho tôi số điện thoại và địa chỉ, dặn nhớ đến nhà chơi, kể nhiều chuyện.

Nhận lời mời, theo sự chỉ dẫn, tôi đến thăm bà sau đó hai tuần. Nơi ở của bà là một khu chung cư Ostaskovski, cách không xa trung tâm Thành phố Moskva. Căn hộ số 31 Nhà nước Liên Xô cấp, ở tầng 5, nhà số 4, rộng chừng 20 mét vuông, nơi bà đã gắn bó mấy chục năm trời từ thời Liên Xô, khi còn đương chức cho đến khi về hưu. Căn phòng không có nhiều thứ sang trọng, rất giản dị, thanh bạch của một giáo chức thời Liên Xô, nhưng ấm cúng. Gặp lại tôi, bà mừng lắm. Bà ân cần hỏi han về cuộc sống ở Moskva, tình hình học tập, nghiên cứu của tôi ở trường, rồi tình hình Việt Nam và vợ con ở nhà, v.v... Bà nói: Quả thực hôm đó gặp anh, biết anh là nghiên cứu sinh Việt Nam tôi rất mừng, mừng lắm! Bà cho biết thêm, bà là tiến sỹ tâm lý học, trước đây công tác ở Viện Tâm lý học Liên Xô, rất mến mộ Macarenko, bà đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về Macarenko, hướng dẫn nhiều đề tài nghiên cứu sinh về lĩnh vực này. Nay, ở gần tuổi 80 bà vẫn say mê khoa học, làm việc hết mình, tham dự các hội thảo, tham gia giảng các chuyên đề về Macarenko cho sinh viên ở một số trường đại học, trong đó có Trường Đại học sư phạm Quốc gia Moskva. Đặc biệt, bà đã từng hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh nước ngoài, trong đó có hai người Việt Nam từ những năm 70, khi Việt Nam đang ở trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt, mưa bom, bão đạn. Hôm đó, bà đến đây dự Hội thảo cốt để gặp lại các đại biểu, "những người muôn năm cũ", trung thành với Macarenko vĩ đại, trong đó có một học trò cuối cùng của ông còn sống, 73 tuổi, hiện sống ở Kharkov. Mắt bà đượm buồn, tiếp tục câu chuyện: Hai nghiên cứu sinh bà hướng dẫn thì một người đã mất, chưa kịp bảo vệ luận án, vì bệnh nặng. Nghiên cứu sinh Lê Sơn bảo vệ thành công luận án năm 1973, rồi về nước. Lúc này, chiến tranh ở Việt Nam đang khốc liệt, thông tin liên lạc không có. Từ đó, cô trò không thể liên lạc được với nha, cuối cùng, hai người mất hẳn liên lạc.

Bà tâm sự: “Lê Sơn là một nghiên cứu sinh Việt nam được bà quý trọng và yêu thương nhất. Một thứ tình cảm đặc biệt chỉ có người mẹ mới có”. Rồi bà giở cuốn album cho tôi xem ảnh, một bức ảnh đen trắng còn rõ nét của Lê Sơn chụp chung với bà trong buổi Bảo vệ luận án Phó tiến sỹ. Phía sau ảnh có ghi “Ле Шон, 1973” bằng tiếng Nga. Ba mươi năm trôi qua (1973-2003), bức ảnh người học trò được bà trân trọng gìn giữ như một kỷ vật vô giá vẫn chưa phai màu, với nỗi lòng canh cánh, đau đáu của một người mẹ chờ con. Hình ảnh trò Sơn luôn hằn sâu trong ký ức bà ngay trong bữa ăn hằng ngày. Nói chuyện hồi lâu, bà mời tôi ở lại dùng cơm tối. Trong mâm cơm, ngoài các thức ăn của Nga đã chuẩn bị sẵn còn có một món đặc biệt – “Cơm Việt Nam”. Bà bảo, sở dĩ có món cơm này vì trong bữa ăn của người Việt Nam không thể thiếu cơm. Nhưng quan trọng hơn, món cơm này học trò Л. Шtrước đây rất thích. Bà nấu món cơm này cũng vì nghĩ đến Lê Sơn. Rồi bà đề nghị nâng cốc chúc mừng vì cuộc gặp mặt đầu tiên, vì Л. Ш, vì Việt Nam.

Thật lạ, những lần sau tôi đến thăm, bà không bao giờ để tôi ra về bụng đói. Không bao giờ trong bữa ăn thết khách lại thiếu món cơm Việt Nam mà học trò “cưng” trước đây thích.

Cứ thế, tình cảm giữa tôi và bà ngày càng gắn bó. Lâu lâu tôi lại đến thăm bà, không đến được thì tôi gọi điện hỏi thăm.

Khi Luận án của tôi đang còn ở bản thảo, bà đã dành khá nhiều thời gian để góp ý về nội dung, chỉnh sửa về hình thức trình bày, văn phong khoa học một cách tỷ mẩn, cẩn thận, nhờ đó tránh được những “hạt sạn” đáng tiếc trong Luận án.

Bảo vệ xong Luận án, trước khi về nước, tôi đến thăm và để chia tay, bà nắm tay tôi run run, mắt rưng rưng, ôm hôn và xúc động: Hãy cố gắng! Nhớ viết thư hoặc gọi điện!

Về nước, tôi thỉnh thoảng viết thư thăm bà, nhất là vào các dịp lễ, tết, sinh nhật.

 

Hành trình tìm học trò Л. Ш

Sau khi dự Hội thảo về, đem chuyện kể với anh chị em sinh viên và nghiên cứu sinh ở Ký túc xá, thật may, có chị Bùi Hồng Việt, thực tập sinh chuẩn bị về nước để quay trở lại trường làm nghiên cứu sinh. Chị Việt bảo, ông Л. Ш thì chị có biết, học ở Liên Xô về, có tuổi rồi, vì chị có học một chuyên đề do PGS. TS Л. Шgiảng. Thế thì may quá, tìm đúng địa chỉ rồi! Chắc chắn thư của bà Vinagradovna sẽ đến được tận tay người này. Được biết, ông Л. Шcông tác ở Viện nghiên cứu đóng tại Hà Nôi, sau đó chuyển vào TP. Hồ Chí Minh, có tham gia giảng dạy một số chuyên đề cho các lớp cao học ở TP. Hồ Chí Minh.

Ngày chị Việt về nước, tôi cho thư vào phong bì hẳn hoi, đề tên và địa chỉ của bà Magarita Dmitrievna, nhờ chị chuyển bức thư này cho ông Л. Ш ở TP. Hồ Chí Minh với hy vọng tràn trề.

Từ khi chị Việt về nước cho đến khi chị sang Moskva là tôi trông ngày, trông đêm. Nhưng khi chị đến Moskva thì hoàn toàn thất vọng. Chị cho biết, về TP. Hồ Chí Minh cầm thư tìm đến nhà PGS. TS Л. Ш với tâm trạng khấp khởi, ai ngờ..!. Bấm chuông, chờ một hồi rất lâu, ông PGS. TS mới ra mở cửa. Đứng ngay trước cửa, chị chào ông, rồi trình bày: Em vừa ở Moskva về, có bức thư của cô giáo hướng dẫn khoa học của thầy hồi xưa, em xin gửi thầy, có thư từ gì thầy thông tin cho em theo điện thoại, sắp tới em lại sang Moskva. Cầm bức thư, nét mặt ông vô cảm, không hỏi han lấy một lời, cũng không một lời cảm ơn, xong đi thẳng vào phòng và đóng sập cánh cửa. Cho đến ngày chị rời TP. Hồ Chí Minh ông PGS, TS cũng không có thông tin gì lại cho chị Việt về bức thư. Nghe chị kể mà tôi buồn, buồn vì sự bạc bẽo, lạnh nhạt, vô cảm của một con người, huống chi lại là một giáo chức thành danh, một học trò đã một thời được coi như con đẻ. Tôi sực nhớ lại lời một nhà giáo dục Xô viết nổi tiếng: “Có những loại trò nhờ khoa học, nhờ thầy để thành danh, nhưng khi đã thành danh rồi thì quên thầy, quên trường luôn”. Tôi biết, trên thế giới hiện tượng trò phản thầy, vô ơn, vô lễ với thầy, không phải là không có, nhưng những nghĩa cử cao đẹp của học trò đối với các thầy cô khi đã thành danh, thành đạt thì không kể hết. Thực tình, tôi hoàn toàn không muốn từ nhân vật học trò trong câu chuyện trên để khái quát thành bản chất và hiện tượng phổ biến về thế thái nhân tình của người Việt Nam trong quan hệ thầy trò nói chung, thầy trò Xô - Việt nói riêng. Chuyện này tôi đã ấp ủ, muốn viết từ lâu rồi, nay mới viết được.

Phải nói gì đây với bà giáo Magarita Dmitrievna ?

Mình đã nói, đã hứa với bà như thế rồi! Giờ tình thế ngược lại, thì ăn làm sao, nói làm sao bây giờ? Để bà khỏi buồn và sụp đổ tinh thần, chỉ có nói dối hợp lý là tốt nhất. Dẫu biết, nói dối một người có tuổi là không nên.

Nhưng nói dối như thế nào cho phải? Một là, nói ông Л. Ш đã chết vì một tai nạn thì khủng khiếp quá, e bà không chịu nổi. Hai là, nói ông Л. Шvà vợ con đã đi công tác nước ngoài dài hạn? Phương án này nhân văn hơn. Cuối cùng, tôi chọn phương án thứ hai.

Sau đó, tôi đến thăm bà, thông báo cho bà biết: bức thư bà gửi tìm trò đã nhờ người mang về Việt Nam, nhưng Л. Шcùng gia đình đi công tác lâu dài ở nước ngoài. Bà vui vẻ và cảm ơn. Hai người lại nâng ly rượu vang, ăn những món thức ăn Nga – Việt, nói chuyện xưa – nay.

Thiết nghĩ, Việt Nam, đất nước vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo, nhưng thực tế vẫn có những loại trò khi đã thành danh, thành ông này bà nọ thì quên luôn thầy dạy mình và trường mình học. Đúng là có những loại trò đã “chết” trước khi thầy họ còn sống!

 

TP. Hà Tĩnh, tháng 04 năm 2013

TS. Nguyễn Văn Tịnh

  •  
    và chia sẻ đến